Thủ Hoằng bắt đầu chú ý tới những vẽ của luận thuyết Âm Dương ở các nơi mà y đi qua, đồng thời y cũng lân la trò chuyện với những người có danh tiếng về việc nầy, y còn mua vài quyển sách để đọc và nghiền ngẫm. Đúng là chỉ có người ta không để tâm, chớ chỉ cần muốn biết thì sẽ có rất nhiều đang có sẵn ở ngoài kia. Gần một tháng sau đó, trước ngày mà y cùng vợ sẽ tới ngôi chùa kia lần nữa thì y đã biết rất nhiều thứ về Ngũ hành, về bát quái; nhiều hơn những kiến thức mà y đã học được từ khi chào đời tới nay. Nhưng mà kiến thức hay những thứ đọc được, nghe kể đều không giúp y biết được rõ ràng tình huống của mình ra sao. Thật ra y cũng không dám lậu ra khả năng thiên phú của mình trước mặt những người đó, y vẫn lặng lẽ làm việc và thu thập những thứ cần thiết. Y nghĩ sẽ gặp vị trụ trì kia trước rồi mới tính toán những việc tiếp theo.
Còn Thị Trang vẫn nghe theo lời trụ trì, sắp sửa đồ cúng, đúng ngày đúng giờ lập bàn thờ ở sân trước khấn vái. Hai chị em ở mướn ban đầu còn thấy lạ, hỏi han sự tình nhưng hai vợ chồng đều trả lời qua loa cho qua chuyện. Bà đã cúng đặng năm lần rồi, thiệt lòng mà nói thì bà không biết có thay đổi gì không, chỉ thấy chồng mình đang bận tâm dữ lằm. Tối nào ông cũng thức khuya, chong đèn ngồi ờ thơ phòng, tiếng loạt xoạt lật sách rồi mùi mực thoang thoảng, chẳng biết ông đang làm gì.
Thời gian đi chùa mất gần hết một ngày nên hai vợ chồng tranh thủ dậy sớm và họ cũng đi riêng, không đi chung với nhóm người đàn bà khác. Hành trình đúng là vừa có đi bộ, đi xe bò và ghe nhỏ, tàu lớn nữa; đúng là qua sông dài vượt đường xa. Cũng may là đương lúc mùa khô nên không bị chậm trễ gì. Cả đoạn đường Thủ Hoằng rất kiệm lời, trầm ngâm suy nghĩ miên man. Chỉ khi đến trước cổng chùa y mới giựt mình nhìn ngó xung quanh.
Thị Trang thấy y lần khần trước cổng liền bước lại gần, hỏi nhỏ:
– Mình sao vậy?
Thủ Hoằng lắc đầu, lẩm nhẩm để chính mình nghe “May là hai viên trân châu đó được đem tới đây, nếu mình còn giữ chắc là sanh họa rồi!”
Vừa rồi y cảm nhận được oán hồn quen thuộc, chính là phần hồn phách còn lưu lại trong hai viên trân châu nhỏ hồi trước. Vị trụ trì giữ lại trân châu, để trong Phật đường tế độ đã qua một tháng rồi mà oán hồn còn nặng tới vậy, nếu như còn trôi nổi bên ngoài hẳn là gây họa cho người giữ nó chớ chẳng không. Thủ Hoằng từng nghe nói rằng oán hồn sẽ dần tan mất theo thời gian nhưng cũng có ngoại lệ, hoặc là chấp niệm quá lớn hoặc là nhờ vào điều kiện nào đó mà oán hồn sẽ càng lúc càng mạnh, có thể làm thành hình dạng để báo oán. Trước giờ y chưa từng gặp qua, không nghĩ rằng oán hồn của cô nương kia lại mạnh đến vậy!
Thủ Hoằng có lòng tin vào trụ trì nên khi gặp mặt ở hậu liêu y chào hỏi rất cung kính. Gương mặt trụ trì bình thản, chỉ có ánh mắt nhìn thẳng như muốn nhìn thấu tâm tư người đối diện.
– Thí chủ, có gì muốn biết phải không?
Thủ Hoằng sắp xếp lại suy nghĩ, rồi chậm rãi hỏi:
– Oán hồn ngụ ở hai viên trân châu đó, trụ trì có thể giải không? Thực sự, thực sự đáng thương!
– Thí chủ … nhìn thấu bao nhiêu?
Thủ Hoằng thấy được vẻ ngạc nhiên trong mắt trụ trì, sau đó là sự chăm chú, giống như trụ trì thật sự muốn biết về y. Y ngập ngừng, trước nay y luôn là người kín kẽ, nói chuyện xã giao thì dễ nhưng muốn tìm hiểu sâu thì khó. Chỉ là lúc nầy, y đang cầu người, không thể giấu kín được nữa. Y còn đương cân nhắc nên nói ra mấy phần thì trụ trì đã lên tiếng.
– A Di Đà Phật, dầu sao cũng là chuyện thế gian, bần tăng đã không còn vướng bận nữa rồi. Hôm nay thí chủ đến đây, hẳn là còn chuyện khác.
– Thưa trụ trì, lần trước tôi có nhận hình vẽ Âm Dương đó, vẫn chưa hiểu ý trụ trì nên mới tới hỏi cho rõ.
– Thí chủ muốn biết rõ, chỉ e là bần tăng đạo hạnh còn kém, không chắc là nói cặn kẽ lý lẽ hay không. Thôi thì, bần tăng biết bao nhiêu sẽ nói bấy nhiêu.
Nói rồi, trụ trì nhấp ngụm trà, mắt nhìn ra cửa sổ giây lát mới chậm rãi nói tiếp.
– Theo như bần tăng suy đoán, thí chủ đã tiếp xúc nhiều lần với oán hồn nên âm khí quanh thân trải rộng hơn, làm cho người xung quanh cũng ít nhiều ảnh hưởng. Giờ là nữ thí chủ, vậy nên việc con cái sẽ không thuận. Lại thêm oán hồn vốn mạnh mẽ nên không khỏi thu hút những thứ khác đến gần nó, … càng lúc càng nhiều, càng nhiều càng lớn …
Trụ trì ngừng lời, quan sát Thủ Hoằng chăm chú hơn rồi nói:
– Thí chủ vì ham mê … trần thế mà không thấy đủ … bần tăng e rằng thí chủ không gánh nổi, lần hồi sẽ vì âm khí quanh thân mà đoản mệnh.
– Thưa, theo trụ trì thì thế nào là đủ, làm sao biết dừng ở đâu?
Thủ Hoằng không phủ nhận rằng y đã dùng những oán hồn đó để mưu cầu lợi ích vật chất nhưng y chỉ lấy bạc tiền từ những kẻ ác kia, còn với oán hồn thì y gần như không hề chạm tới, phần lớn là đứng ở xa mà nhìn. Y biết hình vẽ Âm Dương hôm nọ ẩn ý rằng vật cực tất phản, nghĩa là cái gì ‘quá’ đều không tốt, sẽ gây hại; nhưng điều làm y nghĩ mãi không ra chính là làm sao biết đủ, sao là vừa. Y đã coi lại trong sổ, từ năm y mười lăm tuổi đã biết cách dùng oán hồn để uy hiếp những người còn sống để chiếm lấy tiền tài, kể ra cũng đã mấy chục lần rồi. Tới khi trụ trì nhìn thấy hai viên trân châu kia thì bảo y ngừng lại, ‘nên biết đủ’ nhưng rõ ràng y còn muốn có thêm nhiều của cải nữa, đủ để mua chức Thổ lại mục kia, còn thêm bạc để dựng ngôi nhà lớn hơn nữa.
Thủ Hoằng đã nghĩ ngợi nhiều lần, vẫn luôn không cam lòng, y rất mong trụ trì có thể trả lời câu hỏi của mình. Thế nhưng trụ trì không lên tiếng mà đưa tay xếp mấy tách trà thành hàng ngay giữa bàn rồi rót trà đầy tràn các tách. Làm xong, trụ trì nhìn Thủ Hoằng hỏi:
– Thí chủ uống mấy tách thì vừa bụng? Bần tăng mỗi ngày sẽ uống sáu tách, sáng ba tách, chiều ba tách, không dám uống nhiều hơn. Có ngày bần tăng sẽ uống nhiều hơn chút vì ngày đó đi khất thực xa xôi, hoặc là vì nhịn ăn nên tham uống thêm một tách nữa.
Thủ Hoằng nhìn chằm chằm vào mấy tách trà trên bàn, tai nghe vị trụ trì lý giải cách ông cho là vừa, là đủ. Có lẽ không ai có thể trả lời chính xác câu hỏi của y. Vừa hay đủ đều là tùy thuộc vào mỗi người, ăn uống đã vậy, tiền tài cũng là như vậy. Nhiều người trong làng Tam Thước vẫn ao ước có ngôi nhà tường ba gian như y, còn y thì muốn có ngôi nhà lớn, ở gần thành Qui hơn. Anh Đặng chỉ muốn yên ổn làm chân chạy vặt, đủ cơm no áo mặc; còn y thì muốn lên chức cao hơn, quyền lớn hơn.
Chỉ là, theo lời của trụ trì vừa nhắc, quanh y đã có nhiều âm khí do các oán hồn quấn theo, nếu y vẫn tiếp tục cách nầy thì sẽ đoản mệnh, còn có vợ y cũng chịu vạ lây. Nhưng mà nếu chỉ làm thơ lại thông thường, thậm chí có ăn của cải đút lót thì cũng không thể tích góp tiền của nhiều như bây giờ, phải thêm mấy chục năm nữa mới có nhà cao cửa rộng sao?
Trong lúc Thủ Hoằng triền miên suy nghĩ, quay cuồng với những toan tính trong đầu thì trụ trì vẫn ngồi đó, bình thản nhấp từng ngụm trà, cho đến khi hết ba tách trà mới thôi. Vừa lúc đó, vợ Thủ Hoằng đã cúng lễ ở chánh điện xong, đang chậm rãi đi về hướng nầy.
– Bạch trụ trì,
Lời của Thị Trang ngắt ngang suy nghĩ của Thủ Hoằng, y nhìn vợ rồi nhìn lại ba tách trà đầy tràn trên bàn. Đây là loại trà thơm, ướp từ bông lài trồng ở sân sau. Thủ Hoằng do dự giây lát rồi uống hết ba tách trà hơi nguội. Sau đó y đứng dậy, chắp tay với trụ trì, cáo biệt.
Lúc nầy Thị Trang mới nói tiếp lời ban nãy.
– Chuyện cúng bái,
– À, thí chủ vẫn làm như cũ. Nam thí chủ nầy có thể chỉ dẫn thêm. Còn hai viên trân châu, e rằng bần tăng phải giữ lại thêm ít lâu nữa.
– Thưa vâng. Bạch trụ trì tôi về.
Trụ trì chắp tay, đứng dậy tiễn hai người ra khỏi hậu liêu. Lúc sau trụ trì quay lại nhìn ba tách trà trống trơn, không khỏi thở dài.